• Trang chủ
  • Hỏi đáp
  • Khi nào hợp đồng có hiệu lực ? Hợp đồng không có hiệu lực (vô hiệu) khi nào ?
8 lượt xem

Khi nào hợp đồng có hiệu lực ? Hợp đồng không có hiệu lực (vô hiệu) khi nào ?

1. Khi nào thì hợp đồng có hiệu lực?

Theo Điều 401 (1) Bộ luật Dân sự năm 2015:

Bạn đang xem: Hiệu lực của hợp đồng là gì

Hợp đồng đã giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật liên quan có quy định khác.

Do đó, ngày có hiệu lực của hợp đồng được xác định vào một trong ba thời điểm:

– Đầu tiên, khi hợp đồng được ký kết:

Khi các bên không có thỏa thuận và pháp luật có quy định khác thì hợp đồng này sẽ có hiệu lực kể từ ngày ký. Thời điểm giao kết hợp đồng thường là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận về nội dung của hợp đồng, tức là thời điểm bên chào hàng nhận được phản hồi hợp lệ của bên giao kết. Pháp luật Việt Nam xác định thời điểm giao kết hợp đồng là:

+ Nếu thoả thuận trực tiếp bằng miệng thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên giao kết nhận được văn bản chấp nhận của bên giao kết;

+ Nếu hợp đồng là văn bản thì thời điểm ký kết là thời điểm bên cuối cùng ký vào văn bản;

+ Nếu hợp đồng được giao kết qua đường bưu điện hoặc đường bưu điện thì hợp đồng được giao kết vào ngày bên đề nghị nhận được thư trả lời hợp lệ;

+ Trong trường hợp các bên đồng ý giao kết hợp đồng nếu các bên đồng ý giữ im lặng thì hợp đồng được coi là đã được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên được chào hàng vẫn im lặng. Im lặng.

+ Các hợp đồng được giao kết bằng phương thức điện tử cũng phải tuân thủ các quy định cụ thể của Đạo luật giao dịch điện tử.

– Thứ hai, thời gian do hai bên thỏa thuận:

Về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày được ký kết. Tuy nhiên, nếu các bên thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng khác với thời điểm ký kết thì hợp đồng sẽ có hiệu lực tại thời điểm đó. Ví dụ, cả hai bên có thể đồng ý rằng hợp đồng sẽ có hiệu lực sau 20 ngày kể từ ngày được ký kết.

Quy chế này dựa trên nguyên tắc tự do hợp đồng. Vì các bên có quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, đồng thời có quyền tự do lựa chọn thời điểm hợp đồng có hiệu lực.

– Thứ ba, nếu luật hiện hành khác:

Trong những trường hợp đặc biệt chỉ ra bản chất của hợp đồng hoặc cần kiểm soát chặt chẽ hiệu lực của hợp đồng và bảo vệ các bên, nhà lập pháp quy định riêng về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Trong trường hợp này, hợp đồng có hiệu lực vào thời điểm mà pháp luật quy định. Ví dụ:

Xem thêm: Phun mày chạm hạt giá bao nhiêu? Giá cập nhật mới nhất 2022

Điều 458 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Hợp đồng tặng cho chattel sẽ có hiệu lực kể từ ngày bên nhận nhận tài sản, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Đối với động sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho sẽ có hiệu lực kể từ ngày ngày đăng ký. ”

Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ ngày đăng ký do Luật Đất đai quy định”.

2. Nếu hợp đồng đã có hiệu lực thì có thể sửa đổi, bổ sung không?

Theo Điều 401 (2) Bộ luật Dân sự năm 2015:

Kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực, hai bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhau như đã cam kết. Hợp đồng chỉ có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

Theo đó, pháp luật quy định các bên phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với bên kia theo đúng cam kết kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Hợp đồng chỉ có thể được sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

Có thể nói, hiệu lực của hợp đồng là vấn đề thuộc về bản chất của hợp đồng, vì xét cho cùng, các bên giao kết hợp đồng để ràng buộc quyền và nghĩa vụ của nhau. Hiệu lực của hợp đồng là giá trị pháp lý của hợp đồng sản sinh ra quyền và nghĩa vụ của các bên, giá trị pháp lý đòi hỏi các bên trong hợp đồng phải tôn trọng và thực hiện nghiêm túc quyền và nghĩa vụ của các bên và nghĩa vụ. Chỉ kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực, quyền và nghĩa vụ của các bên mới phát sinh và bị ràng buộc, các bên không được tự ý rút, sửa đổi, hủy bỏ cam kết trong hợp đồng. Ngoài ra, việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng cũng rất quan trọng đối với việc phân loại hợp đồng (đồng thuận hay thực tế), xác định hiệu lực đối với bên thứ ba hoặc xác định hợp đồng có bị vi phạm hay không … Vì vậy, việc xác định hợp đồng là rất cần thiết. thời điểm chính xác khi hợp đồng có hiệu lực.

3. Khi nào thì hợp đồng vô hiệu?

Đối lập với hợp đồng có hiệu lực là hợp đồng vô hiệu (vô hiệu). Việc hiểu rõ các điều khoản khiến hợp đồng được viện dẫn (toàn bộ hoặc một phần) sẽ là cơ sở quan trọng để xây dựng một hợp đồng có hiệu lực và không thể hủy ngang.

Theo Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015:

“Các quy định từ Điều 123 đến Điều 133 của Luật này về giao dịch dân sự vô hiệu cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”.

Hợp đồng dễ hỏng là hợp đồng không có đủ điều kiện hợp lệ do pháp luật quy định, không có giá trị pháp lý, không phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Vì hợp đồng là phương thức giao dịch thông thường nên các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật Dân sự cũng được áp dụng để xử lý hợp đồng vô hiệu.

Do đó, hợp đồng sẽ vô hiệu nếu:

-Hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật và vi phạm đạo đức xã hội.

– Hợp đồng bị giả mạo.

– Hợp đồng do người không có năng lực hành vi dân sự giao kết và thực hiện.

– Hợp đồng vô hiệu do lỗi.

– Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, ép buộc.

Xem thêm: Phát triển nông nghiệp bền vững với mô hình vườn ao chuồng

– Hợp đồng được thực hiện bởi những người không biết và không kiểm soát được hành động của họ.

– Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ các yêu cầu chính thức.

4. Nếu hợp đồng chính vô hiệu thì các hợp đồng phụ có còn hiệu lực không?

Theo sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu quả, hợp đồng được chia thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Do đó, hiệu lực của hợp đồng chính sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng phụ. Theo quy định tại Điều 407 khoản 2 và 3 Bộ luật Dân sự năm 2015:

… 2. Hợp đồng chính vô hiệu chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ có thể thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thoả thuận rằng hợp đồng phụ là một bộ phận không tách rời của hợp đồng chính.

Vì hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp đồng chính nên việc hợp đồng chính bị vô hiệu sẽ chấm dứt hợp đồng phụ, trừ khi các bên đồng ý rằng hợp đồng phụ thay thế hợp đồng. Hợp đồng chính.

Tuy nhiên, có một điều khoản trong luật loại trừ điều khoản đó không được áp dụng đối với các biện pháp bảo đảm được thực hiện để thực hiện một nghĩa vụ. Bởi vì, giao dịch bảo đảm là hợp đồng phụ nhằm mục đích đảm bảo nghĩa vụ chính. Nghĩa vụ chính có thể phát sinh từ trong hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng, như hợp đồng vô hiệu, hợp đồng bị hủy bỏ hoặc các nghĩa vụ phát sinh trách nhiệm dân sự … Vì vậy, hiệu lực của quan hệ hợp đồng bảo đảm và quan hệ giữa hợp đồng chính sẽ được quy định riêng. bởi Luật các biện pháp an ninh.

Việc hợp đồng phụ bị vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ khi các bên đồng ý rằng hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính. Ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng chính – hợp đồng phụ chỉ ảnh hưởng một chiều, tức là chỉ có hợp đồng phụ phụ thuộc vào hợp đồng chính, và hiệu lực của hợp đồng chính được xác định độc lập, và hợp đồng phụ không bị ảnh hưởng bởi hợp đồng chính. Do đó, khi hợp đồng phụ vô hiệu, nếu hợp đồng chính đáp ứng các điều kiện hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng chính vẫn có hiệu lực như bình thường.

5. Làm thế nào để hiểu hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được?

Ngoài các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, việc giao kết và xác lập hợp đồng là vô nghĩa nếu đối tượng của hợp đồng không thể được thực hiện, vì quyền và nghĩa vụ của các bên cũng có thể không được thực hiện. Do đó, Bộ luật Dân sự quy định:

Mục 408. Hợp đồng vô hiệu vì các mục đích không được thực hiện

1. Nếu không thể thực hiện hợp đồng kể từ ngày giao kết thì hợp đồng vô hiệu.

2. Nếu một bên biết hoặc lẽ ra phải biết hợp đồng có vấn đề không thể thực hiện nhưng không thông báo cho bên kia khi giao kết và bên kia đã giao kết thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. . chấn thương. bên kia trừ khi bên kia biết hoặc lẽ ra phải biết rằng hợp đồng là không thể thực thi.

3. Các quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này cũng được áp dụng trong trường hợp không thể thực hiện một hoặc nhiều phần của đối tượng của hợp đồng, nhưng các phần còn lại vẫn có hiệu lực.

Để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, tránh việc lợi dụng việc giao kết hợp đồng để trục lợi, Điều 408 khoản 2 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp một bên giao kết hợp đồng. Biết hoặc phải biết hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện nhưng không thông báo cho bên kia biết mà bên kia đã giao kết và phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết. . Một đối tượng không thể thực thi trên một hợp đồng.

Cũng như các tình huống vô hiệu khác, tình trạng vô hiệu do không thực hiện đối tượng của hợp đồng cũng có thể vô hiệu toàn bộ hoặc một phần. Hợp đồng vô hiệu toàn bộ nếu không thể thực hiện đúng tất cả các mục đích của hợp đồng kể từ ngày ký kết. Các phần của hợp đồng sẽ vô hiệu nếu một phần của mục đích không thể được thực hiện mà không ảnh hưởng đến các phần khác. Nếu nó không hợp lệ một phần hoặc toàn bộ, nó vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp có thiệt hại.

Xem thêm: Lịch âm 15/9, xem âm lịch hôm nay Thứ Năm ngày 15/9/2022 là ngày tốt hay xấu? Lịch vạn niên 15/9/2022

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.