24 lượt xem

Niết bàn là gì

Niết bàn là gì trong đạo phật

& gt; Đức Phật dạy Pháp Niết bàn

Nirvana , tiếng Phạn là Nirvana, tiếng Pali là Nirvana. Học giả doan trung cũng giải thích: Niết bàn là “trạng thái của một nhà sư không có phiền não và biết mình không có chấp trước”, theo nghĩa triết học: “nir: to come out, table or banna (vana): rừng, tức là, từ khu rừng của bóng tối., ra khỏi khu rừng của những rắc rối. Phép siêu hình học Nirvana ——Nirvana như sau: 1. nir: thoát ra, thoát khỏi; vana: bùng binh, bùng binh, thay đổi. Nirvana is con đường phân ly và chuyển hóa. (Phá vỡ vòng sinh tử); 2. Cận hồng ngoại: không có; vana: hôi thối, dơ bẩn, Niết bàn không hôi, dơ bẩn (sạch sẽ, sạch sẽ); 3. nir: ly biệt, tiêu trừ ; vana: rừng rậm, nirvana có nghĩa là thoát khỏi những rắc rối trong rừng rậm (loại bỏ cuộc sống)) ..

Bạn đang xem: Niết bàn là gì trong đạo phật

Người ta chỉ có thể đạt được giải thoát khi dòng năng lượng được đóng lại, chấm dứt nghiệp luân hồi.

Mặc dù những cách hiểu này khác nhau, nhưng ý nghĩa cơ bản là giống nhau: Niết bàn là sự chấm dứt ham muốn, sự chấm dứt nghiệp của luân hồi và sự thanh lọc tuyệt đối. Đó là sự ngưng đọng vĩnh viễn của thời gian và không gian trong cõi tâm linh sâu thẳm của con người. Do đó, Niết bàn trong Phật giáo không phải là trạng thái cực lạc nơi thiên đường của người theo đạo Thiên chúa trong thời gian và không gian, mà là trạng thái tâm linh hoàn toàn tĩnh lặng và bình an. Bình tĩnh, tỉnh táo, không tuyệt vọng, không tham lam, không ngu dốt. , để diệt trừ mọi đau khổ.

Khi nói đến con người, hầu hết các tôn giáo đều công nhận rằng con người có hai phần: thể xác và linh hồn; thể xác là tạm thời và linh hồn là vĩnh cửu, vì vậy sau khi thể xác bị hủy hoại, linh hồn phải được tái sinh ở một nơi nào đó mới xác thịt. , tiếp tục cuộc sống mới. Chỉ có một tôn giáo – triết học Phật giáo không thừa nhận linh hồn bất tử, vì vậy linh hồn không cần một không gian địa lý để cư trú. Mục đích giải thoát của Phật giáo không phải là lên thiên đàng, không phải trở về với Thượng đế, mà là sử dụng bóng tối của bản chất con người để loại bỏ những cá nhân đầy dục vọng và đạt được Niết bàn .

Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần.

Có người hỏi Phật: Sau khi chết, người giác ngộ sẽ đi về đâu? Phật sai người ấy lượm củi khô, nhóm lửa. Càng nhiều củi, lửa càng cháy mạnh, khi không bỏ thêm củi nữa thì đám lửa lụi tàn dần.

Thực ra, khái niệm Niết bàn không hoàn toàn là sản phẩm của Phật giáo. Các Upanishad của Ấn Độ cổ đại đã sử dụng khái niệm này để chỉ trạng thái dung hợp của linh hồn cá nhân (Atman) với linh hồn vũ trụ (Brahman), bản ngã và cái lớn hơn. Ở đây, Nirvana được xếp thẳng hàng với linh hồn vũ trụ của Brahman. Khi nói đến Phật giáo, khái niệm Niết bàn có một nội dung mới và độc đáo so với khái niệm Niết bàn trong kinh Upanishad.

Xem thêm: Ý Nghĩa Của Hoa Oải Hương Lavender – Loài Hoa Của Tình Yêu Chung Thủy

Kinh Phật nói gì về Niết bàn? Các đệ tử của Đức Phật đã hỏi Ngài nhiều lần về quan niệm này. Anh thường né tránh trả lời hoặc trả lời “cái gì không tiết lộ thì không bao giờ tiết lộ”. Bí mật của khái niệm siêu việt, trừu tượng này là gì? Niết bàn không thể được nói về bằng lời. Đối với bản thể tuyệt đối đó, lời nói sẽ trơn tuột và không thể chối cãi. Trong Ngũ điển có 32 ký tự, tương đương với ý nghĩa của Niết bàn, như: “bờ bắc đường” (bờ bên kia), “đại thiện”, “viên mãn”, “chân nghĩa”, “quả báo”, “bình an”. , “giải thoát” … đặc biệt trong Kinh Niết Bàn, khái niệm này được nói đến bằng ngôn ngữ tiêu cực: “vô sanh”, “khổ diệt”, “vô minh đoạn diệt”, “đoạn diệt”, “ái diệt”, “vô úy”, “bất động”, “không ám ảnh”, “không cản đường”, “không ló mặt” …

Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng là Niết bàn, “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”, “Diệt hẳn, mát mẻ, dứt bặt, gọi là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”...

Phật mô tả về Niết bàn: “Sự tiêu tan của dục vọng là Niết bàn, “Sự im bặt của mọi sự vật bị giới hạn, sự dứt bỏ mọi xấu xa, sự diệt dục vọng, sự giải thoát, chấm dứt, Niết bàn”, “Diệt hẳn, mát mẻ, dứt bặt, gọi là đã lìa tất cả các thủ, ái tận, vô dục, tịch tĩnh, Niết bàn”…

Trong logic và ngôn ngữ học, định nghĩa thông thường là đưa một khái niệm nhỏ thành một khái niệm lớn và sau đó thể hiện các đặc điểm riêng biệt của nó (được xác định bởi sự khác biệt về giống và loài gần gũi). Ví dụ, để định nghĩa “tam giác đều”, trước hết phải nói đến khái niệm “tam giác”, sau đó nêu ra các đặc điểm riêng của tam giác đều để phân biệt với các loại tam giác khác (ba cạnh hoặc ba góc bằng nhau). Tuy nhiên, đối với một khái niệm rộng, không có khái niệm (phạm trù) nào rộng hơn, và có một cách duy nhất để xác định khái niệm đó so với đối diện.

Trong triết học, có những phạm trù (phạm trù chất, …) được định nghĩa theo cách này. Trong giáo lý ban đầu của mình, Đức Phật đã sử dụng định nghĩa độc đáo này để đối chiếu Niết bàn với thế giới thực. Nếu thế giới thực là đau khổ, thì Niết bàn là “khổ diệt”; nếu thế giới thực là “bên này”, thì Niết bàn là “bên kia”. … Có thể tìm thấy nhiều đoạn mô tả về Niết bàn trong kinh Phật nói: “Diệt đế là Niết bàn”, vạn vật vắng lặng và giới hạn, tất cả ác diệt, dục vọng cũng dứt. của tham ái, độc thân, thanh thản, Niết bàn “,” Đây là sự kết thúc cuối cùng của chính sự ham muốn, là từ bỏ chính mình. Thoát khỏi nó, thoát khỏi nó, thoát khỏi nó. “Đức Phật đã ví sự tiếp tục của cuộc sống trong luân hồi như một ngọn nến liên tục cháy. Một ngọn nến tắt và một ngọn nến khác được thắp sáng. Nhiệt năng của ngọn nến cũ được chuyển sang ngọn nến mới. Theo cách tương tự, năng lượng của nghiệp đi qua một đời người. Chỉ bằng cách đóng dòng năng lượng và chấm dứt nghiệp luân hồi, con người mới có thể được giải thoát.

Niết bàn là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường - lạc - ngã - tịnh, trái ngược với vô thường - khổ - vô ngã - bất tịnh của thế giới thực tại.

Niết bàn là bản thể tuyệt đối với đặc tính thường – lạc – ngã – tịnh, trái ngược với vô thường – khổ – vô ngã – bất tịnh của thế giới thực tại.

Có người hỏi Đức Phật: Những người giác ngộ sau khi chết đi về đâu? Đức Phật sai người đi gom củi khô để nhóm lửa. Càng nhiều củi thì lửa càng thịnh, khi chưa bổ củi thì lửa tắt dần. Đức Phật hỏi: “Lửa cháy đi đâu rồi?”, “Không! Nó vừa tắt”. Đức Phật nói rằng đây là điều xảy ra với người đã giác ngộ. Dục vọng là nhiên liệu của ngọn lửa cháy bỏng truyền năng lượng qua vòng luân hồi vô tận. Nếu bạn không còn nuôi ngọn lửa đó, nghĩa là không còn ham muốn, nó sẽ tắt. Niết bàn, khi đó, được hiểu là mát mẻ, mát mẻ.

Đôi khi Đức Phật gọi Niết bàn là chưa sinh, chưa trưởng thành và vô hạn. Ở Trung Kinh, Niết bàn được xác định là chân lý tuyệt đối, vượt qua các khái niệm về tính hai mặt và thuyết tương đối.

Về cơ bản, Niết bàn trong Phật giáo là một khái niệm không có thời gian, không gian, không giới hạn, không bắt đầu và không kết thúc. Vì vậy, Nirvana có thể được tìm thấy ở đâu khi Nirvana không ở trong một thời gian và không gian cụ thể? Đức Phật trả lời rằng Niết bàn không phải ở tận cùng của thế giới, mà ở trong tầm chân của con người.

Thoát khỏi cái bản ngã là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì sẽ không thoát khỏi những khổ đau nhân thế.

Thoát khỏi cái bản ngã là đạt tới Niết bàn, nếu con người còn chấp ngã thì sẽ không thoát khỏi những khổ đau nhân thế.

Xem thêm: Sinh học 10 bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật – Lý thuyết, trắc nghiệm Sinh học lớp 10 – VnDoc.com

Theo Đức Phật, ý tưởng tách con người ra khỏi Niết bàn trên thực tế là sai lầm. Vì vậy, để đạt được Niết bàn , trước hết người ta phải vượt qua những sai lầm về nhận thức, thoát khỏi vô minh, và nhận ra ý nghĩa thực sự của “vô thường” và “vô ngã”. “Niết bàn là“ vô ngã ”:“ Niết bàn là cái gì đó hoàn toàn không tự có. Niết bàn không có giới hạn, hư không, và bởi vì Niết bàn không có hình thức – không có hình thức, nên rất khó để đi vào. Để nhập Niết bàn, người ta cũng phải vô hình như Niết bàn . Cánh cửa vào Niết bàn rất hẹp, chỉ dày như sợi tóc, không thể mang theo hành lý, mong vào Niết bàn . Thể xác không thể mang nó, tôi và khái niệm của tôi không thể mang nó. Bản ngã càng lớn càng xa Niết bàn. Nên biết: ngã nào cũng là luân hồi, không có ngã nào là Niết bàn ”.

Thoát khỏi bản ngã là đạt được Niết bàn, nếu còn dính mắc vào mình thì không thể thoát khỏi khổ đau của thế gian. Niết bàn là bản thể tuyệt đối, với các đặc tính của sự thanh tịnh vĩnh viễn-khoái lạc-tự tại, trái ngược với sự vô thường-đau khổ-vô-ngã trong thế giới thực tại. walpola rahula phân tích trạng thái này khá sâu sắc: “Bậc giác ngộ Nirvana là người hạnh phúc nhất trên thế giới. Người ấy thoát khỏi mọi phức tạp và ám ảnh khiến người khác bối rối, mọi lo lắng và phiền muộn. Thể chất của họ. và sức khỏe tinh thần là hoàn hảo. Họ không hối tiếc về quá khứ cũng như mơ mộng về tương lai. Họ sống trọn vẹn trong hiện tại. Vì vậy, họ chỉ đơn giản là tận hưởng và tận hưởng mọi thứ, không phóng túng. Không lo lắng, bình tĩnh, thanh thản.

Vô dư Niết bàn là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn xuất thế hay còn gọi là Đại Niết bàn.

Vô dư Niết bàn là Niết bàn tuyệt đối, Niết bàn xuất thế hay còn gọi là Đại Niết bàn.

Bởi vì họ được giải phóng khỏi những ham muốn ích kỷ, hận thù, ngu dốt, kiêu căng và tự phụ, đặc biệt là những ô uế xấu xa đó. Họ trong sáng, ôn hòa, đầy lòng nhân ái, từ bi, nhân hậu, từ bi và bao dung. Họ phục vụ người khác theo cách thuần khiết nhất bởi vì họ không còn nghĩ về bản thân. Họ không kiếm tiền, và họ không tích lũy bất cứ thứ gì thuộc về lĩnh vực tâm linh, bởi vì họ thoát khỏi bản ngã và mong muốn được hiện hữu.

Nói chung, Phật giáo thường đề cập đến hai loại Niết bàn cơ bản: Niết bàn có dư và Niết bàn không có dư. Nirvana là Niết bàn tương đối, niết bàn của thế gian: vòng luân hồi vô tận mà thân vẫn còn, nhưng tâm thì thoát khỏi luân hồi. Người đó vẫn còn sống, nhưng tất cả phiền não đã được tiêu trừ, và ba độc tham, sân, si đã được tiêu trừ. Năm 35 tuổi, chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã ngồi thiền định dưới cội Bồ đề trong bốn mươi chín ngày và nhìn thấy sao mai mọc lên, đến cuối đời. 45 năm còn lại của cuộc đời, tuy tâm đã sạch vô minh phiền não, nhưng Ngài vẫn không thể thoát khỏi sanh-lão-bệnh-tử.

Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn đều chỉ về trạng thái tâm linh thanh tịnh tuyệt đối, tự do tự tại của con người.

Hữu dư Niết bàn và Vô dư Niết bàn đều chỉ về trạng thái tâm linh thanh tịnh tuyệt đối, tự do tự tại của con người.

Niết bàn không có dư là Nirvana, Nirvana vượt ra ngoài thế giới, còn được gọi là Đại Niết bàn. Kinh Trường Thọ giải thích: “Thế nào là Niết bàn không dư? … Đó là trạng thái đắc quả A-la-hán, không còn phiền não, đã định thiên mệnh, đã làm những việc nên làm và đã từ bỏ… Từ bỏ.” mọi gánh nặng, tự tại, tình cờ giải thoát, kiệt quệ Ta đều biết, tất cả tâm tình bây giờ không còn nguyên nhân, không còn mong đợi, không còn hy vọng, cuối cùng yên lặng, vĩnh viễn nguội lạnh, ẩn ẩn không xuất hiện, chỉ đến tĩnh lặng không có lý do., không thể nói có, không thể nói không, nhưng không thể nói không, không, không. >

Về cơ bản, Nirvana Nirvana dùng để chỉ cõi tinh thần thuần khiết tuyệt đối, sự tự do và tự tại của con người. Sự khác biệt là Niết bàn đạt được trong khi cơ thể còn sống hoặc đã chết.

Xem thêm: 20 tháng 10 là ngày gì? | TRUNG TÂM HỖ TRỢ SINH VIÊN

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.