• Trang chủ
  • Hỏi đáp
  • Vai trò của con người và vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay
14 lượt xem

Vai trò của con người và vấn đề phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay

Với sự xuất hiện của triết học Mác, các vấn đề của con người đã được nhìn nhận, đánh giá và giải thích một cách sâu sắc, khoa học và toàn diện. đặc biệt là triết học Mác

Một phân tích rất chính xác và khoa học về vị trí và vai trò của con người đối với sự phát triển xã hội. Vai trò quan trọng, không thể thay thế của con người trong quá trình phát triển lịch sử được thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

Trước hết, bằng cách biến đổi thiên nhiên theo nhu cầu và mục đích của mình, và bằng cách thực hành sức mạnh vốn có của tự nhiên khách quan, con người đã tự khẳng định mình và thể hiện vai trò của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển của môi trường và xã hội. Nhờ hoạt động lao động, con người không chỉ tiến một bước quan trọng để “tách” ra khỏi thế giới loài vật và trở thành con người thực sự, mà còn “tích cực nhân đôi mình” một cách hiện thực (1) Như Mác đã lập luận, Lê-nin cũng đã chỉ ra rằng con người là nhân tố quyết định và thay đổi thế giới bằng chính những hành động thiết thực của mình. Bằng cách tạo ra hệ thống khái niệm, phạm trù và sử dụng nó làm phương tiện nhận thức thế giới, quá trình không ngừng nâng cao hiểu biết và phản ánh thế giới khách quan cũng là quá trình kích hoạt năng lực tư duy thông qua trừu tượng hóa và khái quát hóa. Nắm vững các quy luật vận động phát triển trên thế giới.

Bạn đang xem: Vai trò của con người là gì

Trên cơ sở này, con người vận dụng sự hiểu biết và kiến ​​thức về thế giới vào các hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo thế giới và phục vụ lợi ích của mình. Chính con người từng bước nhận thức và phát hiện ra những thuộc tính, bản chất, quy luật và lực lượng của tự nhiên, vận dụng và sử dụng chúng để cải tạo tự nhiên theo mục đích của mình. Nhờ con người mà thiên nhiên hoang dã trở thành thiên nhiên nhân tạo, giới tự nhiên với bản chất con người có những đặc điểm mới, đến lượt nó, thiên nhiên cũng hòa nhập vào đời sống xã hội của con người như một thành tố tất yếu. Đồng thời, trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người có thể hoàn thiện mọi phẩm chất về thể chất, trí tuệ, tình cảm và tâm lý, ngày càng thể hiện đầy đủ hơn với tư cách là một thực thể thống nhất, giữa tự nhiên – sinh học và văn hóa – xã hội.

Hai là, do khả năng nhận thức và cải tạo thế giới, con người đã đóng vai trò chủ yếu là hoạt động sáng tạo lịch sử, làm cho lịch sử vận ​​động theo chiều hướng tiến bộ. Lịch sử loài người là lịch sử hoạt động của con người. Con người là chủ thể tích cực trong quá trình phát triển xã hội và sáng tạo ra lịch sử của chính mình. Họ là chủ thể của các quan hệ kinh tế – xã hội và mọi giá trị tinh thần của xã hội. Theo quan điểm duy vật về lịch sử, sự phát triển của xã hội loài người đã (và sẽ tiếp tục) cuối cùng được quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong cấu trúc của năng suất, con người không chỉ là thành phần cơ bản, mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng – kết nối các yếu tố khác và làm cho chúng hoạt động. Là một yếu tố của năng suất, con người không chỉ là người tạo ra sản phẩm, mà còn là “người tiêu dùng” và các nguồn lực đặc biệt trong quá trình sản xuất. vii, Lê-nin đã hoàn toàn đúng khi cho rằng “lực lượng sản xuất chủ yếu của nhân loại là công nhân, là người lao động” (2). Trên thực tế, lao động của con người không chỉ cải tạo tự nhiên, mà còn cải tạo chính con người và mối quan hệ giữa con người với con người. Ph.Ăngghen khẳng định: “Lao động là điều kiện chủ yếu và cơ bản của toàn bộ hoạt động sống của con người” (3). Vì vậy, con người và xã hội loài người tồn tại và phát triển không phải do một thế lực bí ẩn, vô hình nào đó từ bên ngoài tác động mà là do hoạt động sản xuất vật chất. Đồng thời, nó còn là cơ sở của các hoạt động đời sống tinh thần của con người.

Con người sử dụng sức lao động của mình (cả cơ bắp và trí tuệ) kết hợp với các công cụ và phương thức sản xuất khác để tác động vào tự nhiên, biến đổi nó để đáp ứng nhu cầu của con người, bản thân và xã hội. Trong quá trình này, con người tiếp tục sáng tạo ra công cụ lao động mới, thay đổi phương thức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất lỗi thời và chính con người – với tư cách là chủ thể của quan hệ sản xuất – đã thiết lập những quan hệ này thông qua thực tiễn cách mạng của mình. Trình độ của lực lượng sản xuất, tương ứng đã tạo ra một trình độ mới của phương thức sản xuất và sự phát triển của xã hội. Trong một cuộc cách mạng xã hội, con người luôn là trung tâm và là lực lượng chiến đấu đẩy xã hội bước sang một giai đoạn phát triển mới ngày càng tiến bộ hơn. Đây là vai trò tích cực của yếu tố con người trong quá trình phát triển lịch sử, thông qua quá trình thay thế chính đáng hình thái kinh tế – xã hội này bằng hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn. Nói cách khác, thông qua quá trình này, con người sáng tạo và “viết nên” lịch sử xã hội loài người của chính mình.

Xem thêm: Vô tiền khoáng hậu (Unprecedented) là gì? Ý nghĩa của vô tiền khoáng hậu | Ngoại ngữ cộng đồng

Thứ ba, so với các nguồn lực khác để phát triển xã hội, vai trò của con người là quan trọng nhất, hơn nữa đây còn là nguồn lực vô tận. Như chúng ta đã biết, xã hội phát triển luôn đòi hỏi phải có một hệ thống các nguồn lực khác nhau, như tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động … Trong hệ thống này, con người được thể hiện như một nguồn lực quý giá nhất. Tài nguyên vật chất phi con người đương nhiên là cần thiết cho sự phát triển, nhưng là tài nguyên có hạn, có thể cạn kiệt, một số không tái tạo được, ngoài ra chỉ có thể thực sự nâng cao giá trị khi kết hợp với tài nguyên con người. Đồng thời, tiềm năng nguồn nhân lực là rất lớn. Đặc biệt trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ bùng nổ như hiện nay, trí tuệ được coi là nguồn lực vô hạn, đồng thời, lao động trí óc của con người có tác động quyết định đến năng suất và chất lượng lao động, con người trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất để phát triển bền vững.

Có thể thấy, nhân tố con người chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong lịch sử phát triển của loài người. Một mặt, trong tất cả các yếu tố cấu thành chủ thể xã hội, con người luôn là trung tâm, mặt khác, trong hệ thống động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội và lịch sử, con người là cơ bản nhất, quan trọng nhất, quyết định nhất. động lực.

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam cũng có nhiều nhà tư tưởng lớn đã nhanh chóng nhận ra và luôn đề cao vai trò của nhân dân. Ví dụ, Ruan Cui đã từng ví sức mạnh của con người như nước. Vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin để kế thừa những giá trị tinh hoa của tư duy truyền thống dân tộc trong toàn bộ quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong quá trình chuyển hóa chính trị. Trong phương hướng của chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi nhân dân là vốn quý nhất. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, không có gì trên trời cao quý hơn sức dân, không có gì trên thế giới mạnh hơn sức mạnh đoàn kết toàn dân. Quan điểm này thể hiện niềm tin của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sức mạnh bất khả chiến bại và tuyệt đối của quần chúng nhân dân – những con người làm nên lịch sử của đất nước. Trên thực tế, những thắng lợi to lớn và những thành tựu vẻ vang của Cách mạng Việt Nam trong đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa luôn gắn với vai trò của quần chúng nhân dân và đường lối phát huy, sử dụng nguồn nhân lực đúng đắn, hiệu quả của Đảng.

Bước vào công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, vai trò quan trọng của nguồn lực con người một lần nữa được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định và phát huy. Trong kế hoạch xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta chỉ rõ con người là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển xã hội; phát huy sức mạnh tổng hợp đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ chiến lược của Đảng để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, một trong những yếu tố quyết định là chúng ta có tận dụng và khai thác thành công thế mạnh và cơ hội để vượt qua những thách thức, khó khăn không. Quá trình này có được thành lập hay không phần lớn phụ thuộc vào con người – nguồn lực nội sinh đóng vai trò quyết định và quan trọng nhất. Tất nhiên, nguồn tài nguyên nội sinh này cần được nuôi trồng, phát triển với chất lượng cao và sử dụng hợp lý để phát huy hết tiềm năng và lợi ích to lớn của nó. Tuy nhiên, để làm được điều này đòi hỏi phải có sự đánh giá đúng đắn, toàn diện và khách quan về thực trạng nguồn nhân lực nước ta, từ đó có những giải pháp để phát huy sức mạnh của nguồn lực này. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đánh giá khái quát những hạn chế của nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay, cụ thể là chất lượng của đội ngũ lao động và việc khai thác, sử dụng.

Việt Nam được biết đến là quốc gia đông dân nhất trong khu vực. Về con số, chắc chắn rằng nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động của chúng ta nói riêng là rất phong phú. Đó là lợi thế nếu chúng ta biết tận dụng, sử dụng hợp lý, hiệu quả nhưng cũng là khó khăn, áp lực rất lớn có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Nhìn chung, trong điều kiện hiện nay, số lượng lớn không còn là lợi thế cho lao động. Về chất lượng, bên cạnh những phẩm chất cần cù, khéo léo, … thì nguồn nhân lực của nước ta, đặc biệt là lực lượng lao động nhìn chung còn khá hạn chế và thiếu. Điều này được thể hiện ở nhiều mặt cơ bản như thể chất, trí tuệ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề, hiện nay trình độ dân trí của nhân dân ta đã được nâng lên một mức cao hơn, tức là đến năm 2005 đã có hơn 30 tỉnh, thành phố. trên cả nước đã hoàn thành kế hoạch phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Tuy nhiên, chất lượng trí tuệ của yếu tố con người không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, mà quan trọng hơn là trình độ chuyên môn kỹ thuật, được phản ánh bằng các chỉ tiêu như số lượng và chất lượng của lực lượng lao động được sử dụng để đào tạo. Theo số liệu điều tra hiện trạng lao động và việc làm năm 2004, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo của nước tôi còn rất lớn: 72%. Tỷ lệ lao động được đào tạo và cấp chứng chỉ trên thợ giỏi thấp hơn: 16,65%. Về dân trí, tính đến tháng 7 năm 2005, cả nước có 2.339.091 người có trình độ cao đẳng trở lên, trong đó có hơn 18.000 thạc sĩ và gần 16.000 tiến sĩ, tiến sĩ khoa học đang làm việc. nơi. Đội ngũ trí thức công nghệ tập trung chủ yếu ở khu vực phi thương mại (71%), khu vực hành pháp (gần 22%) và khu vực doanh nghiệp (gần 7%) (4).

Phân tích sâu hơn sẽ phát hiện ra những mâu thuẫn khác, chẳng hạn như sự phân bố không đồng đều về cơ cấu lực lượng lao động đã qua đào tạo ở các cấp độ khác nhau giữa thành thị và nông thôn, trung ương và địa phương, vùng, miền núi và đồng bằng. Trên thực tế, lực lượng lao động đã qua đào tạo, đặc biệt là lao động có trình độ cao, chủ yếu tập trung ở các cơ sở trung ương, các thành phố lớn hoặc các trung tâm kinh tế như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Hồ Chí Minh … Đặc biệt, số lượng trí thức có trình độ từ tiến sĩ trở lên ở các vùng mất cân đối nghiêm trọng, vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ chiếm gần 90% số lượng chương trình tiến sĩ của cả nước (trong đó Hà Nội là 63,82%. và 19,33% tại Thành phố Hồ Chí Minh). Trong 6 vùng còn lại, vùng cao nhất chỉ chiếm dưới 4%. Tổng số tiến sĩ của vùng Tây Bắc và Tây Nguyên chỉ chiếm 1% tổng số tiến sĩ của cả nước (5).

Xem thêm: Xác định quy luật di truyền chi phối tính trạng ở người

Mặt khác, trong số những người lao động đã qua đào tạo, không phải ai cũng làm đúng nghề; việc làm ngược lại không phải là một ngoại lệ. Có thể nói, việc sử dụng lao động không hợp lý nói chung là lãng phí, nhưng việc sử dụng lao động đã qua đào tạo không hợp lý còn lớn hơn nhiều.

Vì vậy, đối với nước ta, để đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực một cách hợp lý và có hiệu quả cần phải có một hệ thống đồng thời các biện pháp, trong đó cần chú trọng các biện pháp chủ yếu sau: >

Một mặt là phát triển mạnh mẽ giáo dục, đào tạo và công nghệ, phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; mặt khác là xây dựng tiềm lực trí tuệ – cốt lõi của nguồn nhân lực chất lượng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, “cây mười năm phải trồng, người ta trồng trăm năm” (6).

Trí thông minh là một trong những chỉ số quan trọng nhất để đo chất lượng của yếu tố con người, đặc biệt là trong thời đại công nghệ tiến bộ nhanh chóng, khoa học ngày càng trở thành một loại năng suất. Sản xuất trực tiếp và sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức hiện nay. Ngoài ra, cần quan tâm đến việc giáo dục đạo đức, lối sống của người dân, trước hết là thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Bởi lẽ, xã hội hiện đại không chỉ cần những tài năng chuyên môn mà còn cần những công dân có phẩm chất cao quý, có trách nhiệm với xã hội và xã hội. Vì vậy, quan điểm “giáo dục và đào tạo và khoa học và công nghệ là quốc sách cao nhất” của Đảng phải là tư tưởng chỉ đạo, được các cấp, các ban ngành, gia đình và xã hội quán triệt sâu sắc và nghiêm túc thực hiện. Nhìn chung, vừa có năng lực, vừa có chính trị liêm khiết, sức khỏe tốt, đời sống tinh thần phong phú là người đặt nền móng cho sự phát triển đất nước, phát triển nhanh và bền vững. Mặt khác, để phát huy hết vai trò của giáo dục – đào tạo trong đổi mới, phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng lao động hợp lý, có hiệu quả. Đồng thời, phải kết hợp nâng cao trình độ dân trí với phát triển nguồn nhân lực đồng đều trong khu vực và xã hội; gắn chiến lược phát triển khoa học và công nghệ với nâng cao hàm lượng trí tuệ nhân dân. Bắt đầu từ nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng, cần xây dựng và triển khai các phương thức, cơ chế để tạo điều kiện cho các nguồn lực này.

Hai là, phải quan tâm đến việc phối hợp lợi ích và từng bước phát triển các chính sách theo phương châm bảo đảm công bằng xã hội. Lợi ích chính là điểm mấu chốt và là một trong những động lực chính để phát huy nhân tố con người. Trong thực tiễn cách mạng trước đây, vì yêu cầu giải phóng dân tộc trở thành hàng đầu nên khi giải quyết mọi lợi ích phải đặt lợi ích của cả dân tộc lên hàng đầu. Tuy nhiên, trong thời kỳ đất nước yên bình, những nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân cần được tôn trọng và bảo vệ tốt hơn. Vì vậy, để phát huy vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp trẻ hóa đất nước, không thể không đặt ra vấn đề giải quyết hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích xã hội và lợi ích của toàn xã hội. Và lợi ích lâu dài, giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần… Ngoài ra, chúng ta phải quan tâm và thực hiện hệ thống chính sách xã hội hướng tới con người. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước cần hoạch định chính sách bảo đảm công bằng xã hội, tạo điều kiện cho mọi người được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế, được tiếp cận bình đẳng với các dịch vụ và các dịch vụ liên quan đến phát triển con người. Sự thay đổi về chất là quá trình tích lũy về lượng, và xét trong trường hợp chúng ta coi đó là sự đóng góp lớn nhất của năng lực cá nhân của mỗi cá nhân đối với xã hội và xã hội.

Thứ ba, cần thiết lập và thực hiện cơ chế dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội, tạo môi trường và điều kiện cần thiết để phát huy vai trò của nguồn nhân lực trong mọi lĩnh vực của xã hội. Chỉ khi thực sự làm chủ thiên nhiên, xã hội và bản thân, nhân tố con người mới được phát huy và phát huy hết tác dụng. Để phát huy tính hăng hái, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong các hoạt động, phải xây dựng và thực hiện cơ chế dân chủ, chú trọng hơn nữa dân chủ trực tiếp nhằm thực hiện các giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội. . Phát huy dân chủ không chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người đóng góp khả năng của mình cho xã hội mà còn có ý nghĩa thúc đẩy việc thực hiện cơ chế phản biện xã hội, xây dựng và đề cao trách nhiệm công dân trên tinh thần phản biện xã hội. Nói cách khác, thông qua quá trình dân chủ hóa đã huy động được trí tuệ của toàn dân, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội. Đó là lý do tại sao Hồ Chí Minh cho rằng dân chủ là chìa khóa chủ yếu của mọi vấn đề do thực tiễn cách mạng gây ra.

Tuy nhiên, việc thực hiện dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ cương pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; khắc phục mọi biểu hiện dân chủ cực đoan, sử dụng “dân chủ” để chia rẽ Khối Đại đoàn kết, phá hoại đồng thuận xã hội. Với dân chủ trong đảng và dân chủ bộ máy nhà nước làm nòng cốt, chúng ta sẽ làm tốt công tác chỉnh đốn dân chủ ở cơ sở, tăng cường dân chủ, giải phóng mọi khả năng sáng tạo của quần chúng nhân dân, góp phần ổn định chính trị. ——Tình cảm, tạo điều kiện cho sự thành công của đổi mới.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã khôn ngoan dựa vào yếu tố con người để lập nên mọi thành công. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay, chúng ta luôn nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, lấy đây làm điểm tựa vững chắc là điều kiện để chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Đảng Việt Nam toàn thắng. Nguồn nhân lực để thúc đẩy xã hội phát triển, đây là vấn đề thường xuyên.

Xem thêm: Ðăng nhập tài khoản tiện dụng và an toàn với Keep Me Logged In – Báo Cần Thơ Online

Rate this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.